CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC LUYỆN KIM

Tư vấn chuyển giao công nghệ luyện kim, thành lập nhà xưởng quy mô nhỏ phục vụ cho nhu cầu: chế biến kim loại màu sạch từ phế liệu (nhôm, đồng); nấu luyện, chế biến thép hợp kim, thép không gỉ; đúc chính xác; sản xuất sản phẩm kim loại bột (nhằm phục vụ sản xuất cơ khí và vật liệu mới).

 

Ngành sản xuất vật liệu hợp kim cao dùng cho ngành chế tạo máy ở Việt Nam gần như chưa có gì ngoài sản xuất các loại vật liệu thông dụng phổ biến dùng trong xây dựng. Các vật tư ngành cơ khí luyện kim đều phải nhập từ nước ngoài rất đắt không chủ động về thời gian, ảnh hưởng đến sản xuất.

Ngoài ra trong ngành cơ khí luyện kim còn có một số chỗ khuyết, không có nó ngành cơ khí luyện kim sẽ khó có sự phát triển. Do đó, chúng ta cần lưu ý đến việc phát triển một số ngành sản xuất các loại vật tư đặc biệt, bắt đầu từ việc thành lập các nhà xưởng với qui mô nhỏ như:

 - Xưởng chế biến kim loại màu sạch từ phế liệu (nhôm, đồng).

 - Xưởng nấu luyện, chế biến thép hợp kim, thép không gỉ.  

 - Xưởng đúc chính xác.

 - Xưởng sản xuất sản phẩm kim loại bột (nhằm phục vụ sản xuất cơ khí và vật liệu mới).

Tất cả các xưởng trên đều sẽ áp dụng các công nghệ mới nhất hiện đang tồn tại trên thế giới. Các xưởng này là cơ sở vừa để đem lai lợi nhuận vừa để hướng tới tự mở rộng qui mô sản xuất một cách rẻ nhất mà có được công nghệ hiện đại (chuyển giao công nghệ sản xuất pigment titan, sản xuất titan, wolphram, các hợp kim cứng) với giá rẻ.

Công ty TNHH Nam Nhật chúng tôi sẽ tư vấn và kết nối quý doanh nghiệp có nhu cầu với các chuyên gia, đơn vị sở hữu công nghệ từ Ukraine trong các lĩnh vực luyện kim như sau:

 

I. XƯỞNG CHẾ BIẾN KIM LOẠI MÀU TỪ PHẾ LIỆU

 

1. Lời nói đầu

Sau một thời gian khá dài khảo sát tình hình kim loại màu tại Việt Nam (chủ yếu là nhôm và đồng) thì nhận thấy vật liệu ở Việt Nam chất lượng khá kém, nhôm, đồng làm dây dẫn không đạt yêu cầu do điện trở lớn, sinh nóng dây, mà nguyên nhân là trong vật liệu còn quá nhiều tạp chất.

 Như ta đã biết để tinh luyện kim loại màu từ phế liệu hiện nay trên thế giới vẫn xử dụng các công nghệ cũ, các nhà máy qui mô sản xuất lớn được xây dựng từ nhiều năm nay và họ bán phân phối theo hạn ngạch các loại đồng sạch mác M0, M1, đồng điện cực, nhôm thỏi A0. Cả đồng và nhôm hiện nay đều dùng công nghệ điện phân để tinh luyện, khử các tạp chất, công nghệ này đòi hỏi tốn mặt bằng, tốn điện, ảnh hưởng đến môi trường.

 Chúng tôi muốn ứng dụng vào Việt Nam công nghệ dùng plazma trong chân không nhằm tinh luyện nhôm, đồng trực tiếp từ phế liệu. Vì giá nhôm, đồng phế liệu so với đồng nhôm sạch khác nhau nhiều. Đồng phế giá 4USD/kg, nhưng đồng đỏ giá 7 USD, trong khi đó tiêu hao năng lượng cho plazma chỉ hết 0,5USD/kg. Công nghệ này có thể thực hiện liên tục chứ không phải theo từng mẻ.

2. Nguyên lý công nghệ

Đây là phát minh của viện vật lý kim loại và hợp kim, nó cho phép dùng các thiết bị phổ biến nhưng cho ra sản phẩm chất lượng cao (nó chỉ thích hợp với nhôm và đồng vì nhiệt độ nóng chảy của chúng thấp hơn so với thép đen). Nguyên lý hoạt động của nó là dùng plazma khí trơ (Ar hoặc N) thổi vào trong lòng kim loại lỏng, plazma sẽ làm tăng nhiệt độ kim loại lỏng bù thất thoát nhiệt và đồng thời các hạt khí trơ sẽ hấp phụ các bọt khí, các tạp chất, đồng thời bọt sẽ làm cho kim loại lỏng có tỷ trọng nhẹ hơn so với kim loại lỏng trước plazma nên kim loại lỏng sẽ chuyển động lên phía trên, khi bề mặt kim loại lỏng dâng lên cao tới tấm ngăn giữa, dưới tác động chân không kim loại lỏng sẽ được làm sạch từng lớp mỏng và nó sẽ chảy sang khoang thứ hai, ở đây nó lại được làm nóng lại và rót vào khuôn. Xỉ trên bề mặt kim loại lỏng khoang thứ nhất sẽ được cào ra định kì.        

3. Các yêu cầu về nhà xưởng:

      -   S = 70m2, cao không ít hơn 6m.

      -   Điện 3x380V, không ít hơn 100KVA.

      -   Nước : 6m3/h.

      -   Nhân công: 2 người.

Một dây chuyền có công suất 80kg/h.

 

II. XƯỞNG NẤU LUYỆN , CHẾ BIẾN THÉP HỢP KIM, THÉP KHÔNG GỈ       

 

1. Lời nói đầu

Nói đến các mác thép đặc chủng, hợp kim cao chúng ta muốn nói đến các mác thép dùng chất hợp kim hóa Ni, Cr, Mo, W, Ti và đất hiếm. Các mác này dùng cho các điều kiện môi trường khắc nghiệt như nhiệt độ cao, ăn mòn của axit, áp suất cao, thép không gỉ (20X13, 12XHM, 12X18H9T, 14X17H2, 08X18H10T) các vật liệu này dùng rất nhiều trong ngành hóa chất, dầu khí, đóng tàu, động cơ và đến nay ngành cơ khí chế tạo Việt Nam không phát triển được vì các phôi thép này phải nhập từ nước ngoài và một mác thép phải mua số lượng nhiều (đủ mẻ) thì nhà sản xuất mới bán hoặc giá thành cao nếu mua ít, rất mất chủ động trong sản xuất. 

2. Bản chất công nghệ

Trên thế giới phổ biến là dùng hai công nghệ VOD (tinh luyện trong lò chân không) và AOD (tinh luyện dùng khí Ar và O2 trong nồi), nấu luyện thép hiện dùng lò điện cực nhưng nó sẽ chỉ cho ra các mác thép hợp kim thông thường. 

Bản chất của thép hợp kim là nấu thép trong lò điện cực sau đó cho các chất hợp kim hóa vào và trộn đều chúng cho tới khi có thành phần đồng đều. Tại Học viện luyện kim Ucraina có công nghệ tương đối đa năng đó là công nghệ tinh luyện thép GKR (tinh luyện thép dùng khí gaz+oxy và khi Ar) trong nồi. Sau khi nấu lỏng thép và cho chất hợp kim hóa vào trong lò điện cực, không quan trọng lượng C trong thép (việc này làm cho đơn giản hơn nhiều trong việc chọn phối liệu đầu vào). Thép được rót qua nồi có cấu tạo đặc biệt, có hệ thống thổi khí từ đáy. Điều quan trọng nhất là toàn bộ quá trình tinh luyện được tự động điều chỉnh lượng khí và thành phần khí thùy thuộc vào chỉ số các thông số đo thép lỏng trong lò và nó đã được lập trình sẵn trong máy vi tinh của hệ thống điều hành. Việc thay đổi thành phần khí thổi đáy cho phép thay đổi quá trình oxy hóa hay khử  trong thép lỏng để đạt được các tiêu chuẩn cao. Thêm nữa viêc thổi khí oxy vào thép lỏng sẽ đốt C và sinh nhiệt bù lại nhiệt do mất vào môi trường. Thời gian tinh luyện thép khoảng 30-45 phút trong nồi. Khí argon thổi từ đáy sẽ trộn đều thép lỏng, tăng tính đồng nhất của thép. Khi cần nitrit hóa, thay khi argon bằng khí nito, và như vậy tiết kiệm tiền mua các ferro  mà phải nitrit hóa. Chất lượng thép tinh luyện theo công nghệ GKR cao ngang với chất lượng các công ty tầm cỡ nhất trên thế giới song giá thành rẻ hơn nhiều.

Nếu như công nghệ plazma trong chân không để nhận được kim loại màu sạch từ phế liệu thì công nghệ GKR nhận được các hợp kim chất lượng cao, qui mô đầu tư các dự án này không nhiều (nhất lại nằm trên cùng một mặt bằng của nhà máy sản xuất các thiết bị tuyển khoáng) song hiệu quả kinh tế cao, số lượng vừa đủ đáp ứng thị trường trong nước.

3. Các yêu cầu về nhà xưởng:

      -   S = 200m2, cao không ít hơn 6m.

      -   Điện 3x380V, không ít hơn 500KVA.

      -   Nước : 6m3/h.

      -   Khi trơ, khí gas; áp suất 15kg/cm2, Q=5m3/h.

      -   Nhân công: 5 người.   

 

Một dây chuyền đồng bộ nấu luyện công suất 3000 tấn/năm.

   

III. XƯỞNG ĐÚC CHÍNH XÁC

 

1. Lời giới thiệu

Đúc là ngành có mặt lâu đời nhất trong ngành cơ khí nhưng tính năng kĩ thuật của sản phẩm đúc thường không đáp ứng yêu cầu sử dụng ngành cơ khí hiện đại, tỷ lệ phế phẩm, tiêu hao vật tư cho sản phẩm cao cho nên sản phẩm đúc ít được sử dụng trong chế tạo các chi tiết máy, chủ yếu là đúc các chi tiết to nặng. Nhưng với công nghệ đúc chính xác (đúc khuôn nóng chảy, đúc bốc bay) kết hợp với việc tinh luyện được các mác thép đặc chủng cho phép đúc các sản phẩm có cơ lý tính gần tương đương với gia công cơ khí và có cấu tạo phức tạp đến mức gần như không thể gia công cơ khí được. Đúc chính xác còn cho phép sản phẩm sau khi đúc gần như không phải gia công nhiều, giảm tối thiểu tiêu hao vật tư. Tỷ lệ thành phẩm trong đúc chính xác phụ thuộc vào sự hiểu biết trong ngành luyện kim.

2. Nguyên lý hoạt động

Nguyên lý của đúc chính xác là trước khi rót kim loại lỏng phải chế tạo được các chi tiết giống như các chi tiết muốn đúc bằng các vật liệu dễ nóng chảy như nến (đúc khuôn nóng chảy) hoặc dễ bay hơi như mốp xốp (đúc bốc bay) - chúng được gọi là model. Sau khi tạo được các mođel, người ta tạo khuôn cát xung quanh model, kim loại nóng chảy lỏng sẽ điền đầy vào khoang do các model tạo ra. Sản phẩm đúc sẽ có hình dáng kích thước hình học giống như model.

Xưởng đúc nằm trong khuôn khổ của nhà máy sản xuất thiết bị tuyển khoáng sẽ giúp rất nhiều cho viêc chế tạo các chi tiết đặc biệt cho các thiết bị này. Cùng với thiết kế hiện đại, vật tư sản xuất chủ động rất có cơ sở để nâng cấp, cải tiến thiết bị biến nó trở thành các thiết bị hàng đầu.

3. Các yêu cầu về nhà xưởng:

      -   S = 200m2, cao không ít hơn 6m.

      -   Điện 3x380V, không ít hơn 300KVA.

      -   Nước: 6m3/h.

      -   Nhân công: 5 người.

 

IV. XƯỞNG LUYỆN KIM BỘT VÀ SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM KIM LOẠI BỘT

 

1. Lời giới thiệu

Ngành luyện kim bột tại Việt nam có tiềm năng phát triển tốt vì các vật liệu cơ sở là quặng W và Ti đều có ở Việt Nam. Nhưng hiện nay việc chế biến sâu chúng vẫn chưa phát triển cho nên vật tư vẫn phải nhập ngoại. Trên qui mô nhỏ có thể sản xuất vật tư cho ngành kim loại bột tại VN tiến tới sản xuất qui mô lớn.

Sơ đồ:

WO3   ------- W ------- WC ---------- ép thiêu kết sản phẩm

TiO2 --------- Ti --------TiC -------     ép thiêu kết sản phẩm

Giai đoạn đầu sẽ mua vật tư bột TiC và WC để sản xuất các vật tư phục vụ cho sản xuất, san xuất các chi tiết máy trong thiết bi cán, nghiền, dao cắt v.v.

Trong quá trình hoạt động sẽ tiếp thu các công nghệ để sản xuất vật tư từ nguồn vật tư cơ sở trong nước.

 

2. Nguyên lý công nghệ

Sản xuất các sản phẩm kim loại bột: Qui trình sản xuất sản phẩm kim loại bột không đòi hỏi đầu tư vào thiết bị nhiều, xong nó lại là ngành mang tính công nghệ cao, nó nằm gần với công nghệ nano. Qui trình sản xuất bao gồm các khâu: trước hết bột kim loai có kích thước và thành phần hóa học ấn định được trộn đều với bột kim loại kết dính. Hai thứ bột này được trộn trong môi trường chất bôi trơn kết dính tạm thời. Sau đó chúng được đem sấy khô và đem đi vo viên. Bột đã vo viên sẽ được cho vào khuôn ép và chúng được ép lại để có kích thước hình học và mật độ như qui dịnh để định hình sản phẩm trước khi thiếu kết. Trong buồng chân không các bán thành phẩm sẽ thiêu kết theo chế độ nhất định và các hạt kim lạoi sẽ gắn kết lại với nhau thành sản phẩm hợp kim cứng. Bột có thể là WC, hoặc TiC sẽ cho ra các sản phẩm hợp kim cứng (như mũi dao tiện). Vật tư bột này có thể dễ dàng mua trên thị trường nhưng để đáp ứng chất lượng cho sản phẩm phải tiến tới tự sản xuất các bột này.

Sản xuất bột WC và TiC: bản thân vật tư đầu vào của các bột này (WO3, TiO2) ở Việt Nam không thiếu, khi hoàn nguyên mạnh chúng sẽ mất đi oxy và cho ra kim loại sạch. Sau đó các bột sạch này phải cacbit hóa thành các loại bột hợp kim cứng. WO3 và TiO2 là các sản phẩm có bán trên thị trường.

3. Các yêu cầu về nhà xưởng:

      -   S = 100m2, cao không ít hơn 6m.

      -   Điện 3x380V, không ít hơn 200KVA.

      -   Nước: 6m3/h.

      -   Nhân công: 10 người.   

 Nội dung chuyển gia bao gồm dây chuyền và phòng thí nghiệm.

 

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH NAM NHẬTNHẬT

Email: namnhat9@gmail.com

Điện thoại: 0903708041 or 0985760283

 

Tiêu đề khác
  • Hội thảo giới thiệu Công nghệ tuyển khoáng và xử lý chất thải rắn
  • CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT HẠT HEKSANIT-P
  • CN Phun phủ bề mặt bằng phương pháp phun nổ
  • GIỚI THIỆU DỊCH VỤ TƯ VẤN CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ
  • CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XỈ TITAN, PIGMENT TiO2, Ti